Tiêu chảy cấp ở người cao tuổi: Không thể xem thường

Tiêu chảy cấp ở người cao tuổi: Không thể xem thường

0 540

Thời tiết nóng bức trong mùa hè cùng những chức năng miễn dịch, tiêu hóa… giảm, làm cho người già dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, trong đó có bệnh tiêu chảy cấp. Đặc điểm của thời tiết, sinh lý ở người cao tuổi sẽ càng tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển nếu kết hợp với điều kiện vệ sinh ăn uống không tốt. Tình trạng mất nước liên tục do tiêu chảy và không bù nước, điện giải kịp thời là một trong những nguy cơ gây tử vong cho người cao tuổi. Các nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy cấp ở người cao tuổi .

Tiêu chảy cấp là hiện tượng bệnh lý với triệu chứng đi ngoài phân lỏng, từ 3 lần/ngày trở lên (đi ngoài với một lượng phân lớn và nhiều nước). Tiêu chảy do nhiễm khuẩn chủ yếu là do vi khuẩn và độc tố của chúng. Đối với cơ thể người cao tuổi, chức năng hệ tiêu hóa ngày một suy giảm, họ cảm thấy nhai nuốt cũng khó hơn, các dịch tiêu hóa tiết ra chậm và ít hơn so với khi còn trẻ. Bên cạnh đó nhiều người còn mắc các bệnh mạn tính ở đường tiêu hóa như viêm loét dạ dày – tá tràng, do vậy thức ăn cần được nấu chín kỹ và mềm. Chỉ cần một điều kiện thuận lợi nhỏ cũng có thể khiến họ bị vi khuẩn xâm nhập vào đường tiêu hóa và gây ra tiêu chảy cấp. Các nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy cấp thường gặp ở người cao tuổi là:

– Nhiễm khuẩn nhiễm độc từ thức ăn: Nhiễm khuẩn nhiễm độc thức ăn có thể chia làm 2 loại: Ăn phải thức ăn chứa vi khuẩn có khả năng đột nhập vào niêm mạc ruột và gây bệnh như Salmonella (S. typhi murium và S. enteritidis) là bệnh thường gặp nhất. Trong vòng từ 12 – 36 giờ sau khi ăn, người bệnh thấy có dấu hiệu sốt đột ngột, đau bụng thượng vị hoặc quanh rốn, không mót rặn, tiêu chảy nhiều lần, phân thối, nhiều nước. Phân đôi khi có nhầy, máu, gần giống với phân do hội chứng lỵ. Trường hợp nặng có rối loạn điện giải do mất nước (môi khô, mắt trũng, khát nước). Nếu không chẩn đoán và điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể tử vong do trụy mạch. Ăn phải thức ăn có chứa độc tố của vi khuẩn đã hình thành sẵn trong thức ăn và chính độc tố này gây bệnh (độc tố của tụ cầu vàng, Clostridium botulinum và Vibrio parahaemolyticus). Biểu hiện tiêu chảy nhiều lần trong ngày, đau bụng, không sốt, buồn nôn và nôn. Nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến tình trạng mất nước và tử vong.

– Hội chứng lỵ: Lỵ trực khuẩn do vi khuẩn Shigella gây ra, các triệu chứng của bệnh là sốt, đau bụng quặn, mót rặn, đi ngoài lờ máu cá hay như nước rửa thịt. Những trường hợp này cần điều trị sớm bằng các kháng sinh đặc hiệu nhưng cần chú ý đến hiện tượng kháng kháng sinh của vi khuẩn. Hội chứng này còn do các chủng của Escherichia Coli (E. Coli), có 3 chủng có thể gây tiêu chảy xâm nhập với hội chứng lỵ: đau quặn, mót rặn và phân lỏng máu mũi. Gồm có E. Coli gây bệnh lý ruột; E. Coli độc tố xâm nhập ruột; E.Coli độc tố gây chảy máu ruột. Một nguyên nhân nữa dẫn đến hội chứng lỵ ở người cao tuổi còn do vi khuẩn Yesinia enterocolica, nguồn bệnh là nước, thức ăn bị ô nhiễm như sữa, rau, thịt gây viêm dạ dày, ruột hoặc viêm hạch mạc treo. Khi bị nhiễm khuẩn người bệnh đau bụng dữ dội, tiêu chảy, sốt và phân có máu.

– Tiêu chảy do tả: đây là bệnh do vi khuẩn Vibrio cholerae gây nên. Biểu hiện lâm sàng đi ngoài nhiều lần/ngày, phân lờ lờ như nước vo gạo, không đau bụng, không sốt. Chính vì biểu hiện bệnh này mà người già hay chủ quan, để bệnh nặng dần lên, có thể gây tử vong nếu không được chẩn đoán và điều trị đúng. Sự nguy hiểm nữa là bệnh có thể gây thành dịch, đối tượng cảm nhiễm là tất cả mọi người, trong đó trẻ em và người già dễ mắc nhất.

Điều trị và phòng bệnh như thế nào?

Tiêu chảy cấp dẫn đến mất nước và rối loạn điện giải, do vậy điều trị chủ yếu là bù nước và điện giải. Đối với trường hợp mất nước nhẹ, bồi phụ nước bằng đường uống khi còn uống được, thường dùng oresol, hoặc có thể dùng nước cháo, nước sôi để nguội pha ít muối và đường vừa đủ. Nếu mất nước nặng, khi lượng nước mất lớn hơn 5% trọng lượng cơ thể hoặc khi uống không có kết quả thì phải bù nước bằng truyền tĩnh mạch. Tổng số dịch truyền trong 24 giờ sẽ bao gồm trọng lượng cơ thể bị hao hụt và nhu cầu nước bình thường mỗi ngày. Dịch truyền chủ yếu là dung dịch mặn, ngọt đẳng trương. Nếu hạ kali máu phải bù kali. Kháng sinh được chỉ định cho những bệnh nhân có dấu hiệu tiêu chảy xâm nhiễm (có bạch cầu trong phân) hoặc những bệnh nhân có tổn thương đáp ứng miễn dịch. Đối với lỵ trực khuẩn, Salmonella, E.coli sử dụng các kháng sinh nhóm quinolon như: Ciprofloxacin, ofloxacin, pefloxacin trong 5 – 7 ngày. Với vi khuẩn Campylobacter jejuni cho erythromycin trong trường hợp xâm nhiễm. Với phảy khuẩn tả uống tetracyclin hoặc chloramphenicol hoặc biseptol.

Do đặc điểm sinh lý của người già nên vấn đề phòng bệnh cần đặc biệt coi trọng. Thức ăn cần nấu chín kỹ, các cụ không nên tiếc thức ăn đã để lâu ngày, không nên ăn thức ăn đường phố. Cần rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Những người đi du lịch là đối tượng rất dễ nhiễm bệnh, vì vậy phải đặc biệt chú ý giữ gìn vệ sinh, nếu có những dấu hiệu của bệnh cần phải bù nước hay đến cơ sở y tế, không được tự ý dùng các thuốc chống tiêu chảy vì sẽ càng khó khăn cho công tác điều trị nếu phải nhập viện.

Tùy theo nguyên nhân (có thể nhận biết hoặc được thầy thuốc chẩn đoán) mà chọn dùng các thuốc khác nhau:

– Thuốc hút nước vào lòng ruột: Do uống ít nước, nước lại được cơ thể hấp thu nên trong lòng ruột có ít nước, phân ít nhưng khô cứng, vón lại, khó thải ra, nếu cố rặn ra được thì thấy có máu (do làm rách hậu môn). Lúc này cần dùng các chất kéo nước vào lòng ruột, giữ nước tại đó, làm cho phân mềm nhão, ra dễ dàng. Nhóm này có các thuốc:

– Magie sulfat ngậm nước: Hút nước vào ruột, làm nhuận tràng. Dạng ngậm nước (MgSO4, 7H2O) có tinh thể hình lăng trụ, không màu, vị hơi chát đắng, mát, dễ mất nước trong không khí khô trở thành dạng khan (MgSO4), bột vụn.

– Sorbitol: Có tính lợi mật, tăng tiết mật, dẫn tới tăng ngấm nước vào chất chứa trong ruột, làm nhuận tràng. Không dùng cho người viêm đại tràng, tắc ruột, đau bụng chưa rõ lý do.

– Macrogol: Là một nhóm chất có phân tử lượng lớn, tên mỗi chất riêng có ghi kèm thêm số phân tử lượng (ví dụ macrogol-4000). Nó hút nước vào đường ruột, làm nhuận tràng. Thuốc forlax, mỗi gói chứa 10g macrogol-4000 dùng nhuận tràng. Thuốc fortrans mỗi gói có 64g macrogol-4000 và 5,7g natrisufat, dùng thụt rửa trước khi chụp Xquang. Thuốc cũng không dùng cho người viêm đại tràng, tắc nghẽn ruột, đau bụng chưa rõ lý do.

– Thuốc tăng thể tích phân: Dùng loại chứa nhiều chất xơ. Khi vào ruột, các chất này hút nước, trương nở, tăng thể tích phân ở trực tràng tạo ra sự kích thích tự nhiên, làm cho người bệnh muốn và đi ngoài dễ dàng. Nếu không uống kèm đủ nước, thuốc sẽ không có hiệu lực mà còn có thể gây tắc ruột. Nhóm này có các thuốc:

– Thạch (agar- agar): Dùng thạch hay rau câu (một loại chứa thạch) nấu với nước cho thạch hay rau câu trương nở hết, rồi ăn.

– Normacol: Là chất nhầy thiên nhiên có tính chất hút và giữ nước cao, dùng dưới dạng cốm (hộp 375g), khi dùng thuốc chú ý uống đủ nước. Không dùng cho người hẹp ống tiêu hóa, viêm đại tràng, tắc ruột.

– Thuốc gây kích thích: Dùng các chất gây kích thích, làm tăng nhu động ruột, tăng khả năng lưu thông thức ăn. Thuốc thường dùng: Bisacodyl: biệt dược: bisalaxyl (Việt Nam), contalax, ducolax (Pháp): gây kích thích làm tăng vận động kết tràng, tăng tiết nước, làm nhuận tràng. Dùng viên 5mg (uống) hay thuốc đạn (nhét hậu môn). Thuốc có thể gây rối loạn nhịp tim (xoắn đỉnh) khi dùng chung với một số thuốc tim mạch, huyết áp. Không được dùng cho trẻ em dưới 6 tuổi. Thận trọng với người ruột dễ bị kích thích (vì sẽ gây rối loạn tiêu hóa). Không dùng dạng viên uống cho người viêm đại tràng, tắc ruột. Thuốc làm trơn phân: Dùng chất dầu khoáng (như dầu paraphin). Chất này sẽ bao lấy phân làm cho phân trơn dễ đi ngoài. Cũng có loại chứa glycerol (biệt dược: rectiofar) hay chứa docusat (biệt dược: norgalat) nhưng đều dùng dưới dạng thụt vào trực tràng, khó dùng ở nhà.

Khi bị táo bón cần ăn nhiều chất xơ, uống đủ nước, tăng cường vận động. Nếu làm như vậy mà không cải thiện được mới dùng thuốc. Tránh dùng thuốc nhuận tràng cho trẻ nhỏ.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN